VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRUYỀN THỐNG
Trưởng lão THÍCH THÔNG LẠC
Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014
Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014
GIỚI HÀNH THỨ HAI MƯƠI BA
GIỚI HÀNH NHÃN CĂN
Bắt đầu học, tu tập và muốn đạt được một đời sống GIỚI HÀNH NHÃN CĂN nghiêm chỉnh thì phải thông hiểu: giới đức, giới hạnh và giới hành của nó. Vậy giới đức, giới hạnh và giới hành của giới hành nhãn căn là gì?
Giới đức, giới hành nhãn căn là những lời dạy đạo đức về đời sống của con người tức là Chánh nghiệp.
Giới hạnh, giới hành nhãn căn là những lời dạy về Phạm hạnh tức là oai nghi tế hạnh thường thể hiện qua giới hành nhãn căn như: nói, nín, tiếp giao với mọi người, v.v.. Những oai nghi tế hạnh như vậy được gọi là Chánh nghiệp.
Mỗi con người sanh ra trên đời này đều phải có đủ sáu căn đó là:
1/ Nhãn căn
2/ Nhĩ căn
3/ Tỷ căn
4/ Thiệt căn
5/ Thân căn
6/ Ý căn
Sáu căn này tức là mắt, tai, mũi, miệng, thân và ý.
Hôm nay chúng ta tu học về giới hành nhãn căn. Chúng tôi xin giảng dạy về phần này. Vậy tu tập về giới hành nhãn căn như thế nào?
Trước khi muốn học về giới hành nhãn căn thì chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy La Hầu La: “Này La Hầu La, con nghĩ thế nào? Con mắt là thường hay là vô thường?
- Bạch Thế Tôn là vô thường.
- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
- Bạch Thế Tôn là khổ.
- Cái gì vô thường, khổ chịu sự biến hoại thời có hợp lý chăng, khi quán cái ấy: “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”.
- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn”.
Cuộc vấn đáp giữa đức Phật và La Hầu La, chúng ta đã rút ra được một bài học, từ sự quán xét và tư duy của mình về giới hành nhãn căn tức là con mắt. Con mắt của ta là chất duyên hợp: đất, nước, gió, lửa cấu hợp thành; khi con mắt tan rã thì đất trả cho đất, nước trả cho nước, gió trả cho gió, lửa trả cho lửa; khi trả xong ta chẳng còn cái gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta nữa. Phải không các bạn?
Đủ các duyên hợp lại thành mắt; hết duyên tan rã nó chẳng còn gì. Như vậy mắt đâu phải là ta, của ta, bản ngã của ta; mắt chỉ là một dụng cụ của nhân quả duyên hợp để nhân quả dùng nó tiếp xúc và thấy mọi vật; do tiếp xúc và thấy mọi vật mới sinh ra các cảm thọ; từ các cảm thọ mới sinh ra dục ái, dục ái tức là lòng ham muốn dính mắc chấp trước của ta. Do sự dính mắc chấp trước của ta nên ta mới hiểu lầm lạc con mắt là ta, là của ta, là bản ngã của ta. Do sự lầm chấp như vậy mới sinh ra vô số lậu hoặc; lậu hoặc tức là sanh, già, bệnh, chết ưu bi sầu khổ từ kiếp này đến kiếp khác.
Mục đích của giới hành tu tập này là để giúp ta hiểu đúng mọi sự vật như thật. Như vậy con mắt là vật vô thường là khổ đau. Đó là điều hợp lý mà không thể có ai chối cãi phủ nhận được. Phải không các bạn?
Khi học tu giới hành con mắt ta nên in đậm trong trí và quyết chắc, tin chắc con mắt là vật vô thường là sự khổ đau, không phải của ta, là ta, là bản ngã của ta.
______________
Trưởng lão Thích Thông Lạc. VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRUYỀN THỐNG, Nxb. Tôn Giáo, 2011, tập 1.
GIỚI HÀNH THỨ HAI MƯƠI BỐN
GIỚI HÀNH SẮC TRẦN
Bắt đầu học, tu tập và muốn đạt được một đời sống GIỚI HÀNH SẮC TRẦN nghiêm chỉnh thì phải thông hiểu: giới đức, giới hạnh và giới hành của nó. Vậy giới đức, giới hạnh và giới hành của giới hành sắc trần là gì?
Giới đức giới hành sắc trần là những lời dạy đạo đức về đời sống của con người tức là Chánh nghiệp.
Giới hạnh, giới hành sắc trần là những lời dạy về Phạm hạnh tức là oai nghi tế hạnh thường thể hiện qua giới hành sắc trần như: nói, nín, tiếp giao với mọi người, v.v.. Những oai nghi tế hạnh như vậy được gọi là Chánh nghiệp.
Vậy con mắt để làm gì? Con mắt dùng để trông thấy hình sắc của các pháp trần. Vậy pháp trần là gì?
Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy La Hầu La: “Này La Hầu La, con nghĩ thế nào? Sắc trần là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn, là vô thường.
- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
- Bạch Thế Tôn là khổ.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”.
- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn”.
Tất cả pháp trần đều gồm có không ngoài sáu pháp:
1/ Sắc trần
2/ Thinh trần
3/ Hương trần
4/ Vị trần
5/ Xúc trần
6/ Pháp trần
Khi quán thấy sáu pháp trần này là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại, nó không phải là ta, của ta, bản ngã của ta. Vậy ta còn ưa thích nó làm gì; nó là pháp khổ, mang đến khổ cho ta. Cho nên từ đây chúng ta phải có đôi mắt nhìn thấy các pháp trần là thấy sự khổ đau; nó chẳng hạnh phúc gì mà chấp nhận, mà dính mắc; cần phải tránh xa và thường nhắc tâm chớ nên ưa thích, phải từ bỏ, phải đoạn lìa.
Nhờ sự tu tập thấy biết sáu pháp trần này là pháp khổ đau nên quyết tâm xa lìa, từ bỏ, vì thế chúng ta mới đủ can đảm sống và chấp nhận một đời sống ba y một bát, với tâm hồn trắng bạch như vỏ ốc, phóng khoáng như hư không, chẳng còn một pháp nào làm vướng bận tâm ta. Chùa to, Phật lớn, nhà cửa cao rộng, tiền bạc châu báu nhiều cũng không mê hoặc ta, cũng không làm cho ta ưa thích. Danh lợi dù cao sang tột đỉnh, ta xem như mây khói giữa hư không, như nước chảy qua cầu.
Hiểu thấu rõ các pháp trần không phải của ta, là ta, là bản ngã, thì ta từ bỏ chúng xa lìa chúng dễ dàng, chẳng bao giờ còn nuối tiếc, luôn luôn sợ hãi chúng. Cho nên, mỗi lần có ai cúng dường cho mình một vật dùng gì, một món ăn gì hoặc tiền bạc y áo chúng ta đều sợ hãi, vì những vật đó là rắn độc sẽ giết ta chết trong giới luật, và làm ta mất đường đi đến sự giải phóng trong mặt trận sanh tử luân hồi.
Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là những pháp đáng lưu ý và cần phải tránh xa, từ bỏ. Là người tu sĩ Phật giáo, ta phải sống như Phật “chứng đạo dưới gốc cây, chết nằm dưới gốc cây mà chết”. Sống được như vậy sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp trần mới không tác động tâm ta được.
______________
Trưởng lão Thích Thông Lạc. VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRUYỀN THỐNG, Nxb. Tôn Giáo, 2011, tập 1.
Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014
GIỚI HÀNH THỨ HAI MƯƠI LĂM
GIỚI HÀNH NHÃN THỨC
Bắt đầu học, tu tập và muốn đạt được một đời
sống GIỚI HÀNH NHÃN THỨC nghiêm chỉnh thì phải thông hiểu: giới
đức, giới hạnh và giới hành của nó. Vậy giới đức, giới hạnh và giới hành của
giới hành nhãn thức là gì?
Giới đức, giới hành nhãn thức là những lời dạy đạo đức
về đời sống của con người tức là Chánh nghiệp.
Giới hạnh, giới hành nhãn thức là những lời dạy về
Phạm hạnh tức là oai nghi tế hạnh thường thể hiện qua giới hành nhãn thức như:
nói, nín, tiếp giao với mọi người, v.v.. Những oai nghi tế hạnh như vậy được
gọi là Chánh nghiệp.
Trên đây, chúng ta đã học về Giới hành nhãn căn. Giới
hành sắc trần và tiếp đến là Giới hành nhãn thức. Vậy giới hành nhãn thức như
thế nào?
Trước khi muốn tu học về giới hành nhãn thức thì chúng
ta hãy lắng nghe đức Phật dạy La Hầu La:
“Này La Hầu La, con nghĩ thế nào, nhãn thức là thường
hay là vô thường?
- Bạch Thế Tôn, là vô thường.
- Cái gì vô thường là khổ hay
lạc?
- Bạch Thế Tôn, là khổ.
- Cái gì vô thường, khổ chịu sự biến hoại thời có hợp lý chăng khi
quán cái ấy: “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là bản ngã của tôi?”.
- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn”.
Đọc
những đoạn kinh vấn đáp trên đây của đức Phật và La Hầu La chúng ta rút ra được
một bài pháp tu học có hiệu quả xả tâm ly dục ly ác pháp diệt ngã, diệt tâm
tham, sân, si, v.v.. dễ dàng, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có
phí sức và kết quả giải thoát rất thực tế, rõ ràng, cụ thể.
Đoạn
kinh này đức Phật đã xác định: “Nhãn thức (tánh thấy) là vô
thường, là khổ là biến hoại, không thường hằng, di dịch, thường thay đổi”, không
như Đại thừa và Thiền Tông nghĩ nó là thần thức, là Phật tánh. Đoạn kinh này đã
làm đảo lộn cái hiểu của Đại Thừa và Thiền Tông mà từ xưa đến nay cho thấy cái
nhãn thức này không phải là của ta, là ta, là bản ngã của ta. Sự thật nhãn thức
này chỉ là do các duyên nhân quả tạo thành theo nghiệp lực của nó làm nên như
trên đã nói. Đức Phật dạy: “Thân người do thừa tự của
nghiệp mà có”, chứ nào phải đâu do
một linh hồn hay một thần thức đi tái sanh luân hồi mà có.
Trong
sắc uẩn gồm có sáu thức:
1/
Nhãn thức
2/
Nhĩ thức
3/
Tỷ thức
4/
Thiệt thức
5/
Thân thức
7/
Ý thức
Trong
thân người nào cũng có đủ sáu thức này, nhóm sáu thức này có chung một cái tên
gọi là sắc thức.
Nhóm
sáu thức này còn gọi là sáu tên gác cửa thành. Sáu tên gác cửa thành này nó có
quyền hạn rất lớn, muốn cho ai vào thành thì mới được vào, còn không muốn cho
ai vào thì không ai được vào. Do có quyền hạn lớn như vậy nên đức Phật dạy
chúng ta biết cách sử dụng sáu tên gác cửa thành này để ngăn cản không cho kẻ
ác vào thành. Nhờ đó mà thành trì này được bình an, vô sự.
Chúng
ta đọc lại đoạn kinh giới hành thứ 23, 24 tức là học về Giới hành nhãn căn và
Giới hành sắc trần; học về Giới hành nhãn căn tức là học về bản đồ của sáu cửa
thành; học về Giới hành sắc trần là học về sáu tên giặc ở bên ngoài thường hay
vào thành khủng bố và xâm chiếm thành. Còn Giới hành thứ 25 là học về sáu người
lính giữ thành tức là sáu thức.
Ở
những bài kinh trên đây cho chúng ta thấy biết rất rõ ràng: Thân chúng ta là
thành; sáu căn là sáu cửa thành; sáu trần là sáu tên giặc; sáu thức là sáu
người lính gác thành. Đó là một kịch trường của nhân quả tạo ra để chúng ta
diễn tuồng thất tình lục dục, chứ chẳng có gì là chân thật là của chúng ta cả.
Do vô minh mà chúng ta lầm chấp là có thật. Một trò ảo ảnh của nhân quả, thế mà
loài người trên hành tinh này có mấy ai biết rõ ràng. Phải không các bạn?
Đây
là vũ trụ quan của Phật giáo qua ba giới tượng trưng này: “nhãn sắc giới” là con mắt tiếp xúc
với “sắc trần giới”. Sắc trần là hình sắc, hình
tướng của vạn vật, khi căn trần tiếp xúc nhau thì sinh ra cảm thọ mới sinh
ra “sắc thức giới”. Có sáu thức mới có ái dục. Do căn,
trần, thức họp nhau, nên gọi là lục nhập. Do lục nhập mà thế giới quan của Phật
giáo mới hiện bày cả một sự khổ đau.
Cho
nên đức Phật dạy: “sáu căn, sáu trần, sáu thức,
là vô thường, là khổ là biến hoại, chúng không phải là ta, là của ta, là bản
ngã của ta”. Do sự thấu hiểu này ta mới biết rõ, đây là một
trò ảo kịch của nhân quả. Do biết chúng là trò ảo kịch, chúng ta không chấp
nhận. Vì thế, đối với chúng ta, chúng làm gì ta vẫn thản nhiên bất động. Ví như
con mắt nhìn thấy mọi vật, biết rõ mọi vật mà không sinh tâm tham đắm ham muốn
mọi vật. Đó là cách thức yểm ly con mắt, yểm ly các sắc, yểm ly các thức, yểm
ly các xúc. Muốn thấy rõ sự yểm ly, xin các bạn hãy đọc lại đoạn kinh Giáo Giới
La Hầu La thì rõ: “ Này La Hầu La, do thấy vậy vị
đa văn Thánh đệ tử yểm ly con mắt, yểm ly các sắc, yểm ly nhãn thức, yểm ly
nhãn xúc, do duyên nhãn xúc này được khởi lên thọ, tưởng, hành, thức. Vị ấy yểm
ly luôn phóng khởi lên”.
Do
lục nhập này ta không chấp nhận; ta không chấp nhận tức là yểm ly. Do sự yểm ly
ta ly tham, ly sân, ly si; do ly tham ly sân, ly si mà ta được giải thoát khi
tâm ly sạch tham, sân, si. Tự trong tâm sạch tham, sân, si là thanh tịnh, là ta
đã có sự hiểu biết rằng ta đã tu tập xong.
Trong
sự giải thoát là có sự hiểu biết: “sanh đã tận phạm hạnh đã
thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trong trạng thái này
nữa”. Đến đây chấm dứt những bài kinh Giáo Giới La Hầu La.
Nhưng nólà những giới luật căn bản nhất của người mới vào tu theo Phật giáo mà
kết quả không thua kém bất cứ những vị Trưởng lão nào trong Phật giáo.
Nếu
người mới vào tu theo Phật giáo mà không được hướng dẫn tu tập theo giáo pháp
giới luật căn bản này thì không bao giờ tìm thấy sự giải thoát chân thật.
Dựa
vào những lời dạy giới luật của đức Phật cho người Sa Di đầu tiên trong Phật
giáo (La Hầu La) chúng tôi biên soạn thành bộ Giới Hành Đức Thánh Sa Di để
những người mới bước chân vào đạo Phật, ngay từ phút đầu tiên tu tập vẫn tìm
thấy sự giải thoát thật sự.
Do
bộ sách này được truyền thừa 2548 năm từ đất nước Ấn Độ. Khi truyền sang đến
nước Việt Nam trên 2000 năm văn hiến của đất nước này, hôm nay được chúng tôi
biên soạn thành một sách đạo đức Việt Nam lấy tên là VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TẬP I.
______________
Trưởng lão Thích Thông Lạc. VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRUYỀN THỐNG, Nxb. Tôn Giáo, 2011, tập 1.
SO SÁNH GIỮA BỔN VÀ GIỚI KINH
Bắt đầu học, tu tập và muốn đạt được một đời sống giới luật khẩu hành nghiệp nghiêm chỉnh thì phải thông hiểu: giới đức, giới hạnh và giới hành. Vậy giới đức, giới hạnh và giới hành là gì?
Giới đức khẩu hành nghiệp là những lời dạy đạo đức về đời sống của con người tức là Chánh ngữ nghiệp.
Giới hạnh khẩu hành nghiệp là những lời dạy về Phạm hạnh tức là oai nghi tế hạnh thường thể hiện qua những khẩu hành nghiệp như: nói, nín, tiếp giao với mọi người, v.v.. Những oai nghi tế hạnh như vậy được gọi là Chánh khẩu nghiệp.
Như các bạn đã biết trong tạng kinh Nikaya, hầu hết những bài kinh Phật thuyết đều nói về cách thức ngăn ngừa và diệt trừ các ác pháp để luôn luôn giữ gìn và tăng trưởng thiện pháp tức là giữ gìn tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Đối với Phật Giáo, thiện pháp là giới luật của Phật, cho nên khi dạy ông Anan hay dạy ông La Hầu La..., những bài kinh ấy đều có tên là Giáo giới Anan hay giáo giới La Hầu La...; những bài pháp ấy gọi là “Giới kinh”. Còn một vài bài kinh khác chỉ dạy về sự sai lầm của giáo pháp Bà La Môn nên nó không được xem là giới luật mà thôi.
Như các bạn đã đọc Mười Giới Đức Thánh Sa Di, do từ bộ giới bổn Patimoka tôi biên soạn ra, tuy biết rằng bộ giới bổn này là của các Tổ biên soạn, nhưng tôi thấy các Tổ dựa vào những giới kinh Phạm Võng nên không có gì sai, chỉ sai một điều là biến giới đức, giới hạnh, giới hành thành bộ Giới cấm. Bộ Giới cấm Ba La Mộc Xoa Đề này đã làm mất hết ý nghĩa tự giác, tự nguyện sống đời sống Phạm hạnh của Phật giáo. Bởi vì giới cấm là bắt buộc người khác phải thi hành không được vi phạm hơn là để mọi người tự nguyện, tự giác chấp nhận không phạm giới là vì lý do giải thoát mọi khổ ách cho chính mình.
Phật giáo ra đời vì lợi ích cho loài người, nên Phật giáo không bao giờ dụ dỗ và cũng không bao giờ bắt buộc một ai giữ gìn cái này, tu tập cái kia. Bạn đến với đạo Phật là đến với sự giải thoát an vui cho chính bạn, chứ đạo Phật không có mong cầu bạn đến với đạo Phật để mang lợi ích gì cho đạo Phật. Đạo Phật không cần chùa to, Phật lớn, không cần cúng bái tụng niệm, v.v.. chỉ cần người đến với đạo Phật là không làm khổ mình, không làm khổ người và không làm khổ chúng sanh.
Cho nên, bộ giới cấm này thay vì là bộ giới đức, giới hạnh, giới hành, để trở thành một nếp sống có văn hóa, có đạo đức nhân bản làm người, nhưng các Tổ không hiểu ý Phật nên đã biến bộ Giới luật này thành pháp luật của một quốc gia để trừng trị những phạm nhân. Vì thế, khiến cho tu sĩ Phật giáo bị ức chế thân tâm trong giới cấm. Cho nên trong những tập Đường Về Xứ Phật tôi có nói: “Từ khi có giới cấm ra đời thì tu sĩ càng phạm giới nhiều hơn” là lý do này.
Tại sao khi có giới luật tu sĩ lại phạm giới nhiều hơn? Tại vì do giới cấm ức chế tâm tham dục, trong khi tu sĩ chưa có pháp tu tập ly tham dục. Do vì thế tu sĩ lén lút làm những điều phi pháp, không đúng Phạm hạnh, thường vi phạm vào giới cấm. Khi đã vi phạm thì họ rất xấu hổ với những người khác, với chính lương tâm họ, vì thế, họ tìm cách bẻ vụn giới ra để vi phạm mà không bị lương tâm cắn rứt và tránh khỏi bị mọi người chỉ trích. Xin các bạn đọc một kinh giới do các Tổ khéo luận để bẻ vụn giới ăn phi thời: “Chư thiên ăn trước giờ ngọ, Phật ăn giờ ngọ, chúng sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn đêm”. Đó là một đoạn giới bổn mà các Tổ sử dụng nó như một chiếc bùa hộ mạng đối với nam, nữ Phật tử.
Giới cấm uống rượu thì lại dạy rằng: “Cấm uống rượu say, chứ không cấm uống rượu”. Cho nên tu sĩ hiện giờ ăn uống phi thời, lại còn nghiện ngập thuốc lá, rượu, cà phê, trà, v.v..
Đạo Phật là đạo xả tâm, nhưng giới cấm là một phương pháp ức chế tâm, thành thử giới bổn đi ngược lại giới kinh hay nói cách khác là đi ngược lại giáo pháp của Phật khiến cho những người tu học theo Phật giáo không tìm thấy sự giải thoát, mà càng tu lại càng khổ đau hơn. Do thế hiện giờ tuy có giới bổn mà tu sĩ thì phạm giới bẻ vụn giới tan nát; còn giới đức, giới hạnh, giới hành thì chẳng ai biết đến. Trong khi ấy đức Phật dạy La Hầu La đầy đủ các giới, từ giới cấm mà không cấm, đến giới đức, giới hạnh và cuối cùng là giới hành. Như vậy tính ra giới luật của người Sa di mới vào tu phải tu học 104 giới cộng thêm 100 giới chúng học nữa là 204 giới, chứ không phải chỉ có thập giới Sa Di như các Tổ đã dạy.
Sau khi tu học xong bộ giới luật này, chúng tôi sẽ biên soạn tiếp bộ “Giới Hạnh Oai Nghi Thánh Sa Di”, giúp những ai mới bước chân vào đạo Phật, để có những oai nghi tế hạnh của một bậc Thánh đệ tử Phật.
HẾT PHẦN HAI
Trưởng lão Thích Thông Lạc. VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRUYỀN THỐNG, Nxb. Tôn Giáo, 2011, tập 1.
VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRUYỀN THỐNG - T2
Trưởng lão Thích Thông Lạc. VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRUYỀN THỐNG, Nxb. Tôn Giáo, 2011, tập 2.
LỜI NÓI ĐẦU
Văn Hoá Truyền Thống là những bài pháp dạy về đời sống đức hạnh cho mọi người, không riêng cho những tu sĩ và cư sĩ Phật giáo. Cho nên những ai muốn sống đúng đức hạnh làm người, dù có tôn giáo hay không tôn giáo thì Văn Hoá Truyền Thống vẫn là những bài học đạo đức tốt cho họ. Văn Hóa Truyền Thống chính là những bài học đạo đức làm Người, làm Thánh của Phật giáo, nhưng nó là của chung của loài người, vì nó là đức hạnh nhân bản – nhân quả, sống không làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai, nó là những hành động đạo đức sống cao thượng, biết thương mình, thương người tuyệt vời mà mọi người cần phải trau dồi hằng ngày, nó là giới luật của mọi con người cần phải giữ gìn nghiêm chỉnh. Nếu ai đã biết giới luật này mà không giữ gìn nghiêm chỉnh thì người ấy chỉ là một người vô minh, không sáng suốt, tự chuốc lấy mọi sự đau khổ từ kiếp này sang kiếp khác.
Những tu sĩ và cư sĩ Phật giáo đều là những bậc Thánh Tăng, Thánh Ni và Thánh Cư Sĩ. Vì thế, trong đời sống hiện tại trên thế gian này, hằng ngày quý vị phải biết cách thức sống đúng đạo đức nhân bản – nhân quả thì sự an vui hạnh phúc mới thật sự là chân thật. Do muốn biết cách thức sống đúng đạo đức nhân bản – nhân quả nên phải biết rõ ràng từng hành động thân, khẩu, ý của mình như thế nào đúng và như thế nào sai giới luật, sai giới luật tức là phạm giới. Sống đúng giới luật là sống đúng đức hạnh, sống đúng đức hạnh là sống thương yêu nhau, đem lại sự an vui hạnh phúc cho nhau. Sống phi giới luật là sống vô đạo đức, sống vô đạo đức là sống đem khổ cho nhau, chẳng biết thương nhau.
Kính thưa các bạn! Các bạn đừng hiểu lầm, những người sống đúng giới luật là sống đặc dị, sống không giống như mọi người bình thường. Không đâu các bạn ạ! Họ sống đúng giới luật nhưng vẫn sống bình thường như bao nhiêu người khác, nhưng họ lại phải vượt qua những cái bình thường của mọi người, vì những cái bình thường của mọi người có những cái phi đạo đức, thường làm khổ mình, khổ người. Cho nên người tu sĩ và cư sĩ Phật giáo phải luôn luôn dè dặt, cẩn thận từ hành động nơi thân, nơi lời nói và nơi sự suy nghĩ. Hành động thân, lời nói và sự suy nghĩ của mình đều phải thể hiện một đời sống đúng đức hạnh nhân bản – nhân quả, luôn luôn thực hiện không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Những hành động ấy phải được thực hiện rất cụ thể, thực tế và rõ ràng, chứ không thể nói suông như các vị tu sĩ Phật giáo phát triển Đại thừa và Thiền tông hiện nay.
Ví dụ 1: Đời sống bình thường của con người, một ngày phải ăn ba bữa để sống, thì người tu sĩ Phật giáo không thể ăn ba bữa như mọi người mà lại ăn một bữa, nhưng vẫn sống bình thường, làm việc bình thường mà lại còn ít bệnh tật, khoẻ mạnh. Như vậy trong cái sống bình thường như mọi người, nhưng lại vượt qua cái bình thường, cho nên trở thành cái phi thường. Có đúng như vậy không các bạn?
Ví dụ 2: Đời sống bình thường của con người, mỗi khi gặp những chuyện bất toại nguyện hay bị người khác mạ nhục, mạt sát thì dễ sinh buồn phiền, giận hờn, căm tức v.v.. Ngược lại người tu sĩ Phật giáo khi gặp những chuyện bất toại nguyện hay bị người khác mạ nhục, mạt sát thì họ phải làm sao? Đứng trước cảnh ấy, tâm họ vẫn thản nhiên, bình an và vô sự, không hề có một chút tâm phiền não, ưu bi, sầu khổ hay giận hờn, oán ghét, căm tức người đang mạ lị, mạt sát, làm mình khổ. Như vậy, rõ ràng sống trong cái bình thường như bao nhiêu người khác, nhưng lại vượt lên cái bình thường, cho nên trở thành cái phi thường. Ví thế, đức Phật thường dạy các đệ tử của mình khi đứng trước các ác pháp thì phải hiểu rằng: “Đứng lại thì chìm xuống, tiến tới thì trôi dạt, chỉ có vượt qua”. Vậy vượt qua cái bình thường của mọi người tức là cái phi thường mà đức Phật thường nhắc nhở: “Ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp”. Đó chính là giới hành của các bạn.
Cho nên, những cái bình thường mà lại phi thường là như vậy, ấy là đức hạnh của con người, của những người cư sĩ và tu sĩ Phật giáo. Vì thế, những giáo pháp dạy về đức hạnh để sống được như vậy nên gọi là “Giới đức, giới hạnh, giới hành”.
Kính thưa các bạn! Giới luật thường trong kinh sách Phật có những bài kinh mang tựa đề trực tiếp như: “Giáo Giới La Hầu La, Giáo Giới A nan, Giáo Giới Ca Chiên Diên, v.v..”
Vì thế, tất cả những bài pháp của đức Phật đều dạy về giới luật cả, dù nó có mang tên Giáo Giới hay không mang tên Giáo Giới, thì các bạn cũng nên hiểu nó là giới luật. Giới luật là thiện pháp, giới luật là đạo đức nhân bản - nhân quả sống không làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai và khổ chúng sanh; giới luật là một vị Thầy đức độ đầy đủ, một vị Đạo Sư của mọi người. Giới luật giúp cho con người vượt thoát ra khỏi sông mê biển khổ của cuộc đời. Giới luật còn là một người hướng đạo tốt dẫn đường, dắt lối chúng ta đến bờ giải thoát. Giới luật còn là Phật giáo còn, Giới luật mất là Phật giáo mất. Cho nên đức Phật dạy: “Giới luật ở đâu là tri kiến đó, tri kiến ở đâu thì giới luật đó. Giới luật làm thanh tịnh tri kiến, tri kiến làm thanh tịnh giới luật”. Có đúng như vậy không các bạn?
Bởi vậy, con đường tìm tu để thoát ra mọi sự đau khổ của kiếp người, thì giới luật là một pháp môn quan trọng nhất. Cho nên những tu sĩ không tu học giới luật là tu sĩ u mê lạc vào đường tu của ngoại đạo, thật uổng cho một kiếp người, vô tình họ không phải là đệ tử Phật mà là đệ tử của Ma.
Giới luật quan trọng như vậy chúng ta phải chịu khó nghiên cứu những bài pháp dạy về giới luật, vì trong giới luật có đầy đủ trí tuệ, đức hạnh và những pháp hành ngăn ác diệt ác pháp sanh thiện tăng trưởng thiện pháp cụ thể, thực tế, rõ ràng, v. v…
Những bài kinh dạy về Giới luật được trọn vẹn và đầy đủ nhất của đạo Phật, đó là hai bài kinh trong kinh Trường Bộ tập 1 thuộc tạng kinh Nguyên Thủy Nikaya hệ Pali:
1- Kinh Phạm Võng.
2- Kinh Sa Môn Quả.
Chúng tôi chọn lấy hai bài kinh này và 250 giới Tỳ Kheo Tăng, 348 giới Tỳ Kheo Ni để biên soạn thành bộ Giới Đức, giới Hạnh, giới Hành, của Thánh Tăng, Thánh Ni. Và Thánh Cư Sĩ. Được lấy tên là “Văn Hoá Đạo Đức Truyền Thống Việt Nam”
Mỗi giới luật được chia ra làm ba phần:
1. Phần thứ nhất dạy về “Giới đức”.
2. Phần thứ hai dạy về “Giới hạnh”.
3. Phần thứ ba dạy về “Giới hành”.
- Phần thứ nhất dạy về “Giới đức”, là dạy về đức hạnh của mọi người trên hành tinh này nói chung, nói riêng là cho những bậc Thánh Tăng, Thánh Ni và Thánh Cư Sĩ.
- Phần thứ hai dạy về “Giới hạnh”, là dạy về oai nghi tế hạnh những hành động đức hạnh của mọi người trên hành tinh này nói chung, của những bậc Thánh Tăng, Thánh Ni và Thánh Cư Sĩ nói riêng.
- Phần thứ ba dạy về “Giới hành”, là dạy về những phương pháp rèn luyện trau dồi đạo đức cho mọi người trên hành tinh này nói chung, cho những bậc Thánh Tăng, Thánh Ni và Thánh Cư Sĩ nói riêng.
Giới luật là pháp môn dạy về phương cách sống đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Đó là những phương pháp tu tập hằng ngày để ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp như trên đã nói, và cuối cùng để đạt được kết quả giải thoát tâm vô lậu, chứng Thánh quả A La Hán.
Kinh thưa các bậc Tôn Túc!
Kính thưa các bạn Tăng, Ni và các cư sĩ bốn phương!
Kính thưa các bạn! Việc biên soạn bộ giới đức tâm vô lậu Thánh Tăng, Thánh Ni và Thánh Cư Sĩ được mang tên “Văn Hóa Đạo ĐứcTruyền Thống Việt Nam”, chúng tôi dựa vào những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Gotama) trong tạng kinh Nikaya và giảng trạch nghĩa lý theo kinh nghiệm tu hành của chúng tôi đã đạt được, chứ không dựa vào kiến giải, tưởng giải của kinh sách phát triển Đại Thừa và Thiền Tông, nên có những điều chi sơ sót không vừa ý xin các bậc Tôn Túc cao minh, các bạn Tăng, Ni và các cư sĩ hãy bỏ qua những sơ sót ấy và góp ý để bổ sung thêm hoặc bỏ ra những điều thừa, những điều không đúng, chứ đừng lấy những điều sơ sót đó mà chỉ trích bài bác lẫn nhau là không tốt các bạn ạ! Làm như vậy cũng giống như những người có tâm lượng nhỏ mọn hẹp hòi ích kỉ thường vạch lá tìm sâu, vạch lưng mình cho người khác xem thẹo thì không tốt các bạn! Người xưa thường bảo: “Đóng cửa dạy nhau”, đó là điều tốt đẹp nhất trong gia đình, trong tôn giáo. Còn ở đây chúng tôi nói Đại Thừa và Thiền Tông sai là vì những điều sai của Đại Thừa và Thiền Tông đã trở thành một truyền thống mê tín lạc hậu phi đạo đức lâu đời. Chính những truyền thống này nó đã đánh mất nền đạo đức nhân bản - nhân quả của Phật giáo chân chánh. Vì thế, chúng tôi nói cái sai của Đại thừa và Thiền tông không có nghĩa là bài bác mà có nghĩa là để dựng lại những gì của Phật giáo đã bị Đaị thừa và Thiền tông đã ném bỏ.
Kính thưa các bậc Tôn Túc!
Kính thưa các bạn Tăng, Ni và cư sĩ bốn phương!
Chúng tôi đã từng chứng kiến và nghe thấy các bạn Tăng, Ni và các cư sĩ giảng sư thường lợi dụng những buổi thuyết giảng có đông đủ Phật tử bới móc, chỉ trích, mạ lị, mạt sát lẫn nhau. Các bạn ấy họ là những tu sĩ Phật giáo, đều là đệ tử của Phật, họ và các bạn đều là huynh đệ cùng nhau. Thế mà, vì lòng ganh tỵ, ích kỉ, nhỏ mọn, hẹp hòi nên vô tình các bạn ấy nỡ nhẫn tâm cư xử với nhau một cách tồi tệ thật đáng thương hại. Các bạn còn dùng những thơ, văn và băng cassette bài bác, nói xấu nhau để phổ biến khắp nơi, có khi còn đưa lên mạng Internet để cho mọi người toàn cầu biết tu sĩ và cư sĩ Phật giáo tu hành ở chỗ tâm ganh tị tầm cỡ như vậy, thật là đau lòng. Phải không các bạn?
Kính thưa các bạn! Không lẽ vì những cái sai của Phật giáo hiện giờ được chỉnh đốn lại làm cho Phật giáo tốt đẹp hơn, thì các bạn không bằng lòng ư! Sao các bạn không chịu lắng nghe quán xét cho kỹ để xem coi những điều chúng tôi nói có đúng hay sai. Nếu đúng thì chúng ta cùng nhau sửa, nếu sai thì chúng ta cùng rỉ tai mà dạy nhau, có đâu lại làm một điều thiếu suy nghĩ như vậy các bạn ạ!
Kinh thưa các bạn! Chúng ta đừng bắt chước những tín đồ của các tôn giáo khác phân hóa chia rẽ nhiều hệ phái bất đồng chống đối nhau. Đứng trước cảnh này chúng tôi chẳng biết nói và làm cách nào để các bạn hiểu những hành động trên là thiếu trách nhiệm bổn phận của người Phật tử đối với tôn giáo của mình.
Mục đích chúng tôi biên soạn bộ giới luật này là để chỉnh đốn những đức hạnh của những tu sĩ và cư sĩ Phật giáo. Vì hiện giờ có một số tu sĩ sống phạm giới, phá giới, bẻ vụn giới, xem thường giới luật, không biết xấu hổ, lại còn chế ra giới luật mới để phá sạch đức hạnh của tu sĩ Phật giáo, thường khoe khoang lực lượng Tăng, Ni và Phật tử đông đảo rầm rộ, cách thức tổ chức sự học và cấp bằng này cấp bằng nọ của mình mà hành động tu hành và Phạm hạnh chẳng có một chút nào cả, họ đang làm đào kép múa may đóng tuồng trên sân khấu Phật giáo, họ đang làm trò cười cho những người am tường Phật giáo, họ là những người đáng thương, không đáng trách. Tại sao vậy?
Vì các bạn ấy đang chịu ảnh hưởng kiến chấp của kinh sách phát triển Đại thừa và Thiền tông nên vô tình họ diệt Phật giáo mà không hay biết, thật rất tội nghiệp cho những ai tu theo Phật giáo có mắt mà không tròng.
Kính ghi
Tu Viện Chơn Như
________
Trưởng lão Thích Thông Lạc. VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRUYỀN THỐNG, Nxb. Tôn Giáo, 2011, tập 2.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
